Như bạn đã tìm hiểu trong bài đọc này, nhân cách được hình thành bởi cả yếu tố di truyền và môi trường. Văn hóa nơi bạn sống là một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất hình thành nên nhân cách của bạn (Triandis & Suh, 2002). Thuật ngữ văn hóa đề cập đến tất cả các tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật và truyền thống của một xã hội cụ thể. Văn hóa được truyền đến con người thông qua ngôn ngữ cũng như thông qua việc mô hình hóa các hành vi được chấp nhận về mặt văn hóa và không được chấp nhận được khen thưởng hoặc trừng phạt (Triandis & Suh, 2002). Với những ý tưởng này, các nhà tâm lý học nhân cách đã trở nên chú trọng đến vai trò của văn hóa trong việc hiểu nhân cách. Họ hỏi liệu các đặc tính nhân cách có giống nhau giữa các nền văn hóa hay có sự khác biệt. Có vẻ như có cả khía cạnh phổ quát và đặc thù về văn hóa giải thích cho sự khác biệt trong nhân cách của con người.

Tại sao điều quan trọng là phải xem xét ảnh hưởng của văn hóa đối với nhân cách? Những ý tưởng phương Tây về nhân cách có thể không áp dụng được cho các nền văn hóa khác (Benet-Martinez & Oishi, 2008). Trên thực tế, có bằng chứng cho thấy sức mạnh của các nét nhân cách khác nhau giữa các nền văn hóa. Chúng ta hãy xem xét một trong mô hình Năm yếu tố lớn [Big Five Factor] qua các nền văn hóa. Mô hình này bao gồm sự tận tâm [conscientiousness], bất ổn [neuroticism], cởi mở [openness], dễ chịu [agreeableness] và hướng ngoại [extraversion]. Khi nghiên cứu tâm lý xã hội, các nền văn hóa châu Á mang tính tập thể hơn và người dân ở các nền văn hóa này có xu hướng ít hướng ngoại hơn. Người dân ở các nền văn hóa Trung và Nam Mỹ có xu hướng cho điểm cao hơn về sự cởi mở với trải nghiệm, trong khi người châu Âu lại cho điểm cao hơn về chứng nhiễu tâm (Benet-Martinez & Karakitapoglu-Aygun, 2003).

Theo một nghiên cứu của Rentfrow và các đồng nghiệp, dường như cũng có sự khác biệt về tính cách khu vực ở Hoa Kỳ (Hình 6). Các nhà nghiên cứu đã phân tích câu trả lời của hơn 1,5 triệu cá nhân ở Hoa Kỳ và phát hiện ra rằng có ba nhóm tính cách khu vực riêng biệt: Nhóm 1, ở vùng Thượng Trung Tây và Nam sâu, bị chi phối bởi những người có tính cách “thân thiện và thông thường”; Cụm 2, bao gồm phương Tây, chủ yếu là những người thoải mái hơn, ổn định về cảm xúc, điềm tĩnh và sáng tạo; và Cụm 3, bao gồm Đông Bắc, có nhiều người căng thẳng, cáu kỉnh và trầm cảm hơn. Những người sống trong Cụm 2 và 3 nhìn chung cũng cởi mở hơn (Rentfrow và cộng sự, 2013).

Hình 6

Một giải thích cho sự khác biệt giữa các khu vực là di cư có chọn lọc (Rentfrow và cộng sự, 2013). Di cư có chọn lọc là khái niệm mà mọi người chọn để di chuyển đến những nơi phù hợp với nhân cách và nhu cầu của họ. Ví dụ, một người ở mức độ dễ chịu có thể muốn sống gần gia đình và bạn bè, và sẽ chọn định cư hoặc ở lại một khu vực như vậy. Ngược lại, những người có tính cởi mở cao sẽ thích định cư ở một nơi được công nhận là đa dạng và đổi mới (chẳng hạn như California). Hơn nữa, Rentfrow, Jost, Gosling, & Potter (2009) ghi nhận sự trùng lặp giữa các vùng địa lý và các đặc điểm nhân cách vượt ra ngoài những giải thích thường được sử dụng về tôn giáo, sự đa dạng chủng tộc và giáo dục. Nghiên cứu của họ cho thấy rằng đặc điểm tâm lý của một khu vực có liên quan chặt chẽ với cư dân của khu vực đó. Họ phát hiện ra rằng mức độ cởi mở và tận tâm trong một tiểu bang có thể dự đoán các mô hình bỏ phiếu, cho thấy rằng có mối tương quan giữa các khu vực địa lý và sự khác biệt về nhân cách giữa những người theo chủ nghĩa tự do và những người bảo thủ liên quan đến quan điểm chính trị, mức độ kinh tế và tỷ lệ khởi nghiệp.

Nhân cách trong Văn hóa Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

Các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân và văn hóa theo chủ nghĩa tập thể đặt trọng tâm vào các giá trị cơ bản khác nhau. Những người sống trong nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân có xu hướng tin rằng độc lập, cạnh tranh và thành tích cá nhân là quan trọng. Các cá nhân ở các quốc gia phương Tây như Hoa Kỳ, Anh và Úc đạt điểm cao về chủ nghĩa cá nhân (Oyserman, Coon, & Kemmelmier, 2002). Những người sống trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể coi trọng sự hòa hợp xã hội, sự tôn trọng và nhu cầu nhóm hơn nhu cầu cá nhân. Những cá nhân sống ở các quốc gia ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ đạt điểm cao về chủ nghĩa tập thể (Hofstede, 2001; Triandis, 1995). Những giá trị này ảnh hưởng đến nhân cách. Ví dụ, Yang (2006) nhận thấy rằng những người trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân thể hiện các đặc điểm tính cách theo định hướng cá nhân hơn, trong khi những người trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể thể hiện các đặc tính nhân cách hướng về xã hội hơn. Frewer và Bleus (1991) đã tiến hành nghiên cứu bằng cách cho sinh viên đại học Papua New Guinean làm bài kiểm tra tự lượng giá Eysenk. Họ phát hiện ra rằng kết quả tự kiểm nhân cách chỉ phù hợp khi được phân tích trong bối cảnh của một xã hội theo chủ nghĩa tập thể. Tương tự, Dana (1986) cho rằng các dịch vụ đánh giá nhân cách cho người Mỹ bản địa thường được cung cấp mà không có sự công nhận thích hợp về các phản ứng theo văn hóa cụ thể và hệ quy chiếu dành riêng cho bộ tộc. Người đánh giá cần phải có nhiều hơn kiến thức chung về lịch sử, sự khác biệt của bộ tộc, văn hóa đương đại về vùng đất dành riêng cho một bộ tộc nào đó và mức độ tiếp biến (tiếp nhận và biến đổi) văn hóa để có thể giải thích các câu trả lời trong kiểm tra tâm lý với một sai lệch tối thiểu.

Tiếp cận nghiên cứu về nhân cách trong bối cảnh văn hóa

Có ba cách tiếp cận có thể được sử dụng để nghiên cứu nhân cách trong bối cảnh văn hóa, đó là cách tiếp cận so sánh văn hóa; cách tiếp cận bản địa; và cách tiếp cận kết hợp, kết hợp các yếu tố của cả hai quan điểm. Vì những ý tưởng về nhân cách có cơ sở phương Tây, nên phương pháp so sánh văn hóa tìm cách kiểm tra những ý tưởng phương Tây về nhân cách trong các nền văn hóa khác để xác định xem chúng có thể khái quát hóa và liệu chúng có giá trị văn hóa hay không (Cheung van de Vijver, & Leong, 2011). Ví dụ các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận so sánh văn hóa để kiểm tra tính phổ quát của Mô hình Năm nhân tố của McCrae và Costa [McCrae - Costa Five Factor Model]. Họ nhận thấy khả năng áp dụng trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, với Năm yếu tố lớn ổn định trong nhiều nền văn hóa (McCrae & Costa, 1997; McCrae và cộng sự, 2005). Phương pháp tiếp cận bản địa ra đời nhằm đáp lại sự thống trị của các phương pháp tiếp cận phương Tây đối với việc nghiên cứu nhân cách ở những môi trường không thuộc phương Tây (Cheung và cộng sự, 2011). Bởi vì các đánh giá nhân cách dựa trên phương Tây không thể nắm bắt đầy đủ các cấu trúc nhân cách của các nền văn hóa khác, mô hình bản địa đã dẫn đến sự phát triển của các công cụ đánh giá tính cách dựa trên các cấu trúc phù hợp với nền văn hóa đang được nghiên cứu (Cheung và cộng sự, 2011). Cách tiếp cận thứ ba để nghiên cứu nhân cách giữa các nền văn hóa là cách tiếp cận kết hợp, đóng vai trò là cầu nối giữa tâm lý học phương Tây và bản địa, như một cách hiểu cả những biến thể văn hóa và phổ quát trong tính cách (Cheung và cộng sự, 2011).